Với 60% dân số thế giới cư trú ở châu Á, nhu cầu lương thực tăng mạnh trong khu vực là điều không thể tránh khỏi, khiến nền nông nghiệp khắp châu Á đang phải thúc đẩy tốc độ năng suất đáng kể trong ba thập kỷ tới. Khi thu nhập tăng và tầng lớp trung lưu tăng, các hộ gia đình đòi hỏi thực phẩm an toàn hơn và chất lượng tốt hơn. Nông nghiệp truyền thống không được kỳ vọng sẽ cung cấp số lượng và chất lượng thực phẩm một cách đồng đều và bền vững. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó yếu tố cốt lõi nhất đến từ sự phát triển kinh tế và sự mất cân bằng hệ sinh thái môi trường.
Làn sóng chuyển đổi nông nghiệp tiếp theo là tất yếu. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ra đời khiến công nghệ thông minh đang trở nên phổ biến trong toàn bộ nền kinh tế, bao gồm cả nông nghiệp. Nó đòi hỏi những công nghệ cho phép giảm chi phí đầu vào và chi phí trên mỗi đơn vị đầu ra, khả năng phục hồi tốt hơn trước các cú sốc môi trường và cơ hội lớn hơn để có thu nhập cao hơn cho các hộ sản xuất nhỏ và ngư dân quy mô nhỏ.
Những ứng dụng này mang lại nhiều hứa hẹn cho việc chuyển đổi hệ thống nông nghiệp thực phẩm. Tuy nhiên, các nền kinh tế châu Á rất khác nhau về mức độ sẵn sàng áp dụng nông nghiệp thông minh. Do vậy, Chương trình Chuyển đổi Nông nghiệp Thông minh (SAT) của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) đã được thực hiện nhằm mục tiêu chính là xác định mức độ sẵn sàng của các thành viên APO. Từ đó tăng cường an ninh lương thực và đáp ứng nhu cầu lương thực trong tương lai ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương thông qua tăng năng suất, chất lượng và đổi mới trong thực phẩm nông nghiệp, dẫn đến cải thiện việc làm ở nông thôn, tính bền vững và an toàn dinh dưỡng.
Nghiên cứu này được áp dụng ở một số quốc gia điển hình như Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Thái Lan và Việt Nam – các nền kinh tế đang phát triển có ngành nông nghiệp và dân số đáng kể, với nhu cầu cấp thiết là tăng năng suất nhanh chóng thông qua SAT. Tuy nhiên, các quốc gia này có mức độ sẵn sàng cho SAT khác nhau.
Dựa trên GVA nông nghiệp trên mỗi lao động, chuyển đổi nông nghiệp tiến bộ nhất hiện nay ở Indonesia và Thái Lan và kém nhất ở Việt Nam. So với mức 1.300 USD/năm của Việt Nam, sản lượng nông nghiệp trên mỗi lao động ở Indonesia cao gấp 3 lần, trong khi Thái Lan cao hơn 2,5 lần (Hình 1). Ấn Độ và Pakistan chỉ cao hơn 50%, tuy nhiên các chỉ số cũng cho thấy Ấn Độ gần đây đã bắt kịp Pakistan.
Xét dưới góc độ khác, Việt Nam cho thấy tốc độ tăng trưởng sản lượng nông nghiệp trên mỗi lao động nhanh nhất, ở mức 4,1%/ năm, tiếp theo là Indonesia với 3,7%/năm. Đứng thứ ba là Ấn Độ – quốc gia có tăng trưởng cao nhất đạt 80% vào năm 1991, nhưng lại có mức tăng trưởng yếu nhất về nông nghiệp, sản lượng trên mỗi công nhân (dưới 1% mỗi năm). Trong khi đó, Thái Lan có thành tích thất thường nhất xét về sản lượng nông nghiệp trên mỗi lao động.

Hình 1: Nghiên cứu của World Bank (2020) về GVA nông nghiệp trên mỗi lao động từ năm 1991 – 2016
Việt Nam
Báo cáo này đề cập: Ngành nông nghiệp của Việt Nam đang đạt được nhiều tiến bộ và đóng góp lớn vào nền kinh tế của đất nước, với việc trở thành một trong những nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới về lúa, cao su, cà phê, tiêu, hạt điều, sản phẩm gỗ và thủy sản. Trong 30 năm qua, Việt Nam đã đạt được thành tựu đáng kinh ngạc về mặt tăng trưởng kinh tế, với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 6%, cao nhất trong số các nền kinh tế đang phát triển khác trên thế giới. Ngành nông nghiệp cũng có những bước tiến vượt bậc, cùng với ngành lâm nghiệp và thủy sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Việt Nam được xếp hạng 47 trên tổng số 127 quốc gia và kinh tế được đánh giá theo Chỉ số Đổi mới Toàn cầu 2017. Theo đó, hiện Việt Nam vẫn đang tăng cường nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cả ứng dụng trí tuệ nhân tạo và Internet of Things (IoT) và việc sử dụng các công nghệ số mới để quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Bên cạnh nhiều thành tựu đã đạt được, số liệu cũng cho thấy Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là thiếu hụt lao động có trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho ứng dụng Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 trong lĩnh vực nông nghiệp.
Theo Báo cáo này, trình độ lao động của các quốc gia Đông Nam Á hiện nay đa phần đứng ở nhóm trung bình thấp, với trình độ lao động của Ấn Độ đứng gần cuối bảng xếp hạng (xếp thứ 128/130 quốc gia được đánh giá). Trong khi đó, trình độ lao động của Thái Lan và Indonesia cao hơn một chút, trong khi trình độ lao động của Pakistan và Việt Nam đứng ở mức trung bình.
Về hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin của Việt Nam phát triển mạnh mẽ và đứng trong nhóm các nước hàng đầu ASEAN. Năm 2017, số người sử dụng Internet băng thông rộng cố định là 50,2 triệu người, chiếm 54,19% dân số. Tổng băng thông Internet quốc tế đạt 3.816 Gbps, tương đương 79,66 bps/người dùng. Việt Nam được xếp hạng cao hơn Thái Lan, Pakistan và Indonesia trong chỉ số Điểm Chấp Nhận Toàn Cầu (DAI), với điểm số 4,6 trên tổng số 10 điểm, cao hơn trung bình thế giới. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có tỷ lệ sử dụng Internet cao hơn trung bình thế giới, đứng trong top 13 quốc gia với tổng số người dùng Internet chiếm 54% dân số và tỷ lệ sử dụng mạng xã hội đạt 40%. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn thiếu nhận thức và hiểu biết về các giải pháp IoT cho nông nghiệp và lợi ích của chúng.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Chính phủ đã thiết lập môi trường thể chế, chính sách thuận lợi, tận dụng tối đa những thành tựu và nền tảng hiện có, đồng thời tận dụng tối đa các cơ hội mà CMCN 4.0 mang lại. Trong những năm gần đây Chính phủ đã có nhiều thành tựu nỗ lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trong đó có nông nghiệp thông minh, coi đây là giải pháp hữu hiệu khắc phục những điểm yếu, hạn chế của mô hình tăng trưởng cũ.
Kết quả đánh giá mức độ sẵn sàng SAT cho thấy Việt Nam ở mức trung bình. Số liệu cũng chỉ ra rằng mức độ sẵn sàng cho SAT của quốc gia cao hơn ở cấp độ sản xuất nhưng lại thấp hơn ở cấp độ hạ nguồn. Để tạo điều kiện và đẩy nhanh quá trình SAT ở Việt Nam, quốc gia cần quan tâm nhiều hơn đến các lĩnh vực như sắp xếp hậu cần nông nghiệp, tập trung đất đai cho canh tác quy mô lớn, giảm thiểu rủi ro (bảo hiểm nông nghiệp), đào tạo lao động và TFP nông nghiệp,GVA và thu nhập bình quân của người lao động nông nghiệp.
Thái Lan
Nông nghiệp luôn là trụ cột của nền kinh tế Thái Lan. Nhờ khí hậu nhiệt đới ôn hòa và đất đai màu mỡ dồi dào, nước này đã trở thành nước sản xuất hàng đầu về nông sản. Từ góc độ toàn cầu, Thái Lan sẽ tiếp tục là nước xuất khẩu nông sản hàng đầu, đặc biệt là gạo.
Trong các quốc gia được đề cập trong Báo cáo này, Thái Lan là nước có tiềm năng lớn nhất trong lĩnh vực chuyển đổi nông nghiệp thông minh nhờ các yếu tố thuận lợi như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực phát triển và chính sách của chính phủ. Cụ thể, Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách và quy định để khuyến khích sự phát triển của các công nghệ số mới trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cả việc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ. Trong đó có các dự án nông nghiệp thông minh tại Thái Lan, bao gồm dự án Smart Farmer của Total Access Communication Public Company Limited. Mặt khác, việc đầu tư nhiều hơn của khu vực tư nhân vào R&D cũng như tài trợ cho nông dân địa phương cũng là những yếu tố hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp thông minh cho nước này. Theo chính sách này, chính phủ đã cố gắng thuyết phục khu vực tư nhân đầu tư vào R&D và tăng tỷ lệ này lên tới 1% GDP quốc gia.
Báo cáo chỉ ra rằng Thái Lan đã sẵn sàng cho quá trình chuyển đổi ngành nông nghiệp và chuẩn bị tốt kịch bản cho số hóa, sự thiếu hụt lao động, già hóa dân số, lãi suất thấp, các khoản vay thương mại, R&D và hỗ trợ khu vực tư nhân trong R&D. Những yếu tố này cho thấy Thái Lan có mức độ sẵn sàng cao trong việc chuyển đổi nông nghiệp từ một ngành nông nghiệp cơ bản sang ngành công nghệ cao, từ đó giúp ích cho người nông dân về nhiều mặt như cung cấp thông tin về đất, cây trồng, dịch bệnh, thời tiết, năng suất cây trồng…, quản lý hoạt động canh tác, tối ưu hóa điều kiện canh tác để đạt năng suất cây trồng cao nhất.
Ví dụ, trong ngành nông nghiệp, Sunsweet Public Co., Ltd đã áp dụng số hóa cho việc trồng ngô ngọt trên đồng ruộng, đồn điền ở miền Bắc Thái Lan. Việc sử dụng số hóa, máy bơm năng lượng mặt trời, trạm thời tiết, cảm biến độ ẩm đất, hạt giống được chứng nhận và máy bay không người lái cho nông nghiệp đã được thúc đẩy để tăng năng suất ngô ngọt. Năng suất ngô ngọt tăng từ 9,375 tấn/ha lên 15,625 tấn/ha giúp thu nhập của nông dân tăng lên khoảng 1.000 USD/ha. Những kết quả này cho thấy số hóa ngành nông nghiệp có thể giúp ích đáng kể cho nông dân bằng cách cung cấp thông tin về quản lý đất, cây trồng và nước cũng như phòng chống dịch bệnh cây trồng, dự báo thời tiết và năng suất cây trồng. Nó cũng cho phép phổ biến thông tin về các khía cạnh khác trong quản lý trang trại và cách tối ưu hóa điều kiện canh tác để đạt năng suất cây trồng cao hơn. Điều này có thể dẫn đến sự chuyển đổi của ngành nông nghiệp Thái Lan trong thập kỷ tới.
Đánh giá mức độ sẵn sàng và phân tích GAP chỉ ra rằng Thái Lan đã chuẩn bị tương đối tốt cho việc thích ứng công nghệ (số hóa) cấp trung và cấp cao. Ngành nông nghiệp Thái Lan có tất cả các yếu tố từ hạ nguồn đến thượng nguồn về hàng tồn kho, dự trữ, tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ chuyển đổi và cơ sở hạ tầng. Những yếu tố này đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy nông dân địa phương sử dụng các công nghệ mới và cuối cùng là chuyển đổi ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ GVA nông nghiệp thấp có thể sẽ là trở ngại cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp.
Pakistan
Pakistan là một trong mười quốc gia đông dân nhất thế giới, với dân số hơn 212,2 triệu người. Đây là quốc gia có diện tích lớn thứ 33 với diện tích 881.913 km2. Nền nông nghiệp của Pakistan được hưởng lợi từ chất lượng đất tốt và khí hậu thích hợp cho việc trồng nhiều loại trái cây và rau quả bao gồm bông, ngũ cốc và các loại cây trồng khác như mía, để tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.
Giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, nông nghiệp được coi là ngành quan trọng nhất của Pakistan. Mặc dù năng suất trên mỗi ha hiện tại là phù hợp nhưng cần có năng suất cao hơn để đáp ứng dân số ngày càng tăng, cho thấy xu hướng cần phải triển khai nông nghiệp thông minh trong tương lai.
Các phương pháp canh tác cải tiến như canh tác theo đường hầm, canh tác thủy canh và trồng rừng dày đặc, được hỗ trợ bởi các loại hệ thống tưới nhỏ giọt khác nhau là cần thiết. Đây đều là một phần của nông nghiệp thông minh nhằm đạt được tiềm năng năng suất tối đa từ các loại cây trồng hiện đại sử dụng đất canh tác sẵn có.
SAT có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp ở Pakistan. Tuy nhiên, nó cần sự hỗ trợ đầy đủ từ khu vực công vì nông dân vừa và nhỏ không có đủ nguồn tài chính để áp dụng SAT nên vẫn thích sử dụng công nghệ chi phí thấp. Năng suất, chất lượng và đổi mới đòi hỏi phải có sự đầu tư có kế hoạch và việc phát triển kinh tế – xã hội trong nông nghiệp có thể thực hiện được thông qua chuyển đổi nông nghiệp thông minh ở giai đoạn trước thu hoạch và sau thu hoạch của sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp thông minh ở Pakistan được tiến hành ở quy mô rất nhỏ so với quy mô của ngành nông nghiệp trong nước. Pakistan cần triển khai các công nghệ hiện đại, tiên tiến, đặc biệt là hỗ trợ canh tác quy mô vừa và nhỏ, không bỏ qua các trang trại lớn. Sự tham gia của các đối tác công và tư trong R&D và hỗ trợ tài chính cho cộng đồng nông nghiệp vừa và nhỏ sẽ mang lại kết quả hiệu quả hơn trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó vấn đề quan trọng nhất cần được giải quyết ở Pakistan là thay đổi cơ cấu Nông nghiệp.
Indonesia
Với nguồn tài nguyên phong phú và tiềm năng đất trồng lớn, Indonesia được đánh giá là đất nước có tiềm năng lớn trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển ngành nông nghiệp, bao gồm cải thiện chất lượng sản phẩm nông nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng.
Trong khoảng thời gian hai năm (2016-2018), số lượng nông dân suy giảm ở Indonesia đã tăng khá đáng kể với hơn 4 triệu người. Trong số 33,4 triệu nông dân, có khoảng 30,4 triệu hay 91% là những người sắp bước vào độ tuổi 50-60 trong khi chỉ có 9% hay 2,7 triệu nông dân trẻ trong độ tuổi từ 19-39. Việc thế hệ trẻ không quan tâm đến nông nghiệp cho thấy lĩnh vực này không còn được coi là có lợi nhuận hấp dẫn. Tình trạng này cũng có thể có những tác động bất lợi đối với mục tiêu của chính phủ là biến Indonesia trở thành kho lương thực thế giới vào năm 2045. Sự tái tạo lực lượng nông dân là một trong những yếu tố then chốt cho sự tiến bộ và hiện đại hóa nông nghiệp ở Indonesia.
Mặt khác, quá trình cơ giới hóa nông nghiệp ở Indonesia là một quá trình diễn ra từ năm 1960. Việc sử dụng máy công cụ nông nghiệp nhằm mục đích tăng diện tích và cường độ trồng trọt, đẩy nhanh công việc, giảm chi phí, giảm tổn thất và tăng sản lượng. Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình này vẫn chưa đạt mức tối ưu do ngân sách nông nghiệp sụt giảm, việc phân phối thiết bị không phù hợp với nhu cầu và sự chuẩn bị về mặt thể chế để nông dân tiếp nhận. SAT được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả canh tác bằng cách giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh tại Indonesia.
Những điều kiện này một lần nữa sẽ làm cho nông nghiệp trở thành một ngành được quan tâm cho giới trẻ bằng cách hứa hẹn thu nhập cao hơn. Để giải quyết tình trạng chính phủ phân bổ ngân sách thấp cho nông nghiệp, quốc gia này có thể tối ưu hóa việc sử dụng quỹ của địa phương để tài trợ cho các công nghệ nông nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu của địa phương. Doanh nghiệp thuộc sở hữu của làng (BUMDes) là những lựa chọn tốt nhất để đảm bảo rằng công nghệ nông nghiệp được duy trì bền vững nhằm mang lại doanh thu cho địa phương.
Ấn Độ
Ấn Độ là quốc gia lớn nhất thế giới về diện tích đất canh tác. Hơn một nửa lực lượng lao động ở Ấn Độ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan. Tuy nhiên, đóng góp của ngành vào GDP (GVA kể từ năm 2013-2014) đã giảm dần, chạm mức khoảng 14% trong năm 2018-2019. Điều đó có nghĩa là khoảng một nửa dân số Ấn Độ chỉ chiếm 14% thu nhập quốc dân và điều này đã dẫn đến tình trạng mức độ phân phối thu nhập không đồng đều cao.
Sau khi thực hiện cải cách kinh tế và tự do thương mại vào năm 1991, thị trường hàng hóa nông nghiệp ở Ấn Độ trở nên biến động mạnh, buộc nông dân phải ngừng trồng một số loại cây trồng. Thực tế phần lớn các hộ sản xuất nhỏ hoạt động ở mức sinh hoạt tối thiểu cũng hạn chế nghiêm trọng việc áp dụng công nghệ mới và số hóa.
Đã có sự thay đổi trong mô hình chính sách ở Ấn Độ từ mục tiêu sản xuất sang mục tiêu thu nhập, bằng cách đảm bảo mức giá hợp lý và cải tiến công nghệ sau sản xuất. Cấu phần cơ bản của gói chính sách được đổi mới là: (i) số hóa quy trình giao dịch, (ii) thúc đẩy giao dịch trực tuyến, (iii) Uber hóa hàng hóa nông sản, (iv) thiết lập chợ điện tử với cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu giao dịch của thị trường, (v) thành lập ủy ban thị trường chuyên ngành tại các trung tâm sản xuất nông nghiệp quan trọng.
Một phân tích về các chỉ số khác nhau để đánh giá mức độ sẵn sàng cho SAT ở Ấn Độ cho thấy hơn 50% các thành phần thiết yếu của Chỉ số sẵn sàng cho SAT thấp hơn nhiều so với mức mong muốn. Ngoài ra, 25% các chỉ số thiết yếu không tồn tại hoặc không có dữ liệu để đánh giá được công bố rộng rãi. Nhìn rộng hơn, số liệu chỉ ra rằng chuyển đổi nông nghiệp và số hóa tại Ấn Độ cần phải đi phát triển có chiều sâu và rộng hơn cho cả sản xuất và tiếp thị. Những cải cách gần đây trong nông nghiệp và các hoạt động liên minh ở Ấn Độ, đặc biệt sau khi thực hiện Báo cáo của Ủy ban Dalwai, đã tập trung nhiều hơn vào các vấn đề sau thu hoạch hơn là sản xuất. Các bên liên quan chính của chuyển đổi nông nghiệp, đặc biệt là các hộ sản xuất nhỏ và lao động nông nghiệp, các nhà kinh doanh nhỏ và các đại lý tiếp thị cần được trang bị đầy đủ để áp dụng những thay đổi công nghệ và số hóa. Đây sẽ là bước đầu tiên hướng tới chuyển đổi nông nghiệp ở Ấn Độ.


